Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đển sự phát triển chương trình đào tạo của các trường Đại học Việt Nam hiện nay

TS. Phan Ngọc Thanh

Chuyên gia tư vấn quản lý Công ty INLEN

Giảng viên cơ hữu khoa Quản trị – Luật ĐH Nguyễn Tất Thành

thanh.phan@inlen.com

TÓM TẮT

Giáo dục đại học được công nhận là một công cụ hiệu quả cho sự phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao và phát triển xã hội trên nhiều phương diện. Tuy nhiên, ngày nay giáo dục đại học ở Việt Nam cũng như của nhiều nước khác trong khu vực và trên thế giới đang phải đối mặt với tốc độ thay đổi nhanh chóng, trong đó có sự thay đổi về phát triển chương trình đào tạo do nhiều tác nhân gây ra, đang ảnh hưởng đến nhiều mặt của cuộc sống, kể cả sự huy động nhân lực xuyên quốc gia. Bài viết này nghiên cứu về những nhân tố tác động, có ảnh hưởng đến phát triển chương trình đào tạo của các trường đại học Việt Nam hiện nay đó là: nhân tố phát triển khoa học công nghệ; đào tạo theo nhu cầu xã hội; toàn cầu hóa trong giáo dục đại học, đồng thời bài viết này cũng phân tích và thảo luận sự ảnh hưởng của các nhân tố và nêu ra một số giải pháp cho mỗi nhân tố để các trường đại học Việt Nam phát triển chương trình đào tạo phù hợp với xu thế của sự thay đổi, nhằm thích ứng, tồn tại, hội nhập, phát triển và trường tồn.

  1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Vào khoảng 500 năm trước Công nguyên, Hearclitus - một triết lý gia người Hy Lạp đã phát biểu “ Không có gì tồn tại vĩnh viễn, trừ sự thay đổi ! ” .

Trong thời đại của chúng ta, khi mà nhịp điệu của sự thay đổi đang ngày càng gia tăng thì chân lý của câu nói trên càng được minh chứng, đặc biệt là trong thế giới công việc.

Thời kỳ mà người ta làm những công việc như nhau với những cách làm như nhau trong suốt quãng đời làm việc nay đã thuộc về quá khứ. Môi trường làm việc cũng đã đổi thay một cách sâu sắc trong vòng 40 năm trở lại đây, và thật khó có thể hình dung rằng ”thời vàng son” ấy sẽ quay trở lại.

Thay đổi không đơn thuần là một chướng ngại vật nhất thời hay một vấn đề cần được giải quyết ngay để chúng ta sớm quay lại với trạng thái ban đầu, trái lại, thay đổi diễn ra mọi lúc. Không một doanh nghiệp, không một tổ chức nào đứng yên mà không cần thay đổi. Sự tự mãn đã không còn chỗ đứng trong thế giới công việc, bởi lẽ cách thức làm việc của ngày hôm qua chỉ còn thích hợp cho con người của ngày hôm qua mà thôi.

Suy cho cùng: Thay đổi là quy luật tất yếu của mọi đối tượng, mọi chủ thể, để thích ứng với  sự tiến hóa, nhằm tồn tại, phát triển và trường tồn.

Trong thời đại toàn cầu hoá và môi trường giáo dục cạnh tranh gia tăng như hiện nay, các trường Đại học không thể nằm ngoài quy luật của sự thay đổi, nhất là phải thay đổi cách dạy, cách học, khi mà có nhiều tác nhân bên ngoài gây ra sự thay đổi cho ngành giáo dục như: Phát triển khoa học công nghệ; Đào tạo theo nhu cầu xã hội; Toàn cầu hóa trong giáo dục đại học… Để thay đổi cách dạy và học nhất thiết phải phát triển chương trình đào tạo của các trường đại học Việt Nam hiện nay phù hợp với những tác nhân bên ngoài như đã nêu trên.

2. CỞ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC

2.1 Khái niệm về chương trình đào tạo

Theo Từ điển Giáo dục học – Nxb Từ điển Bách khoa 2001: “ Chương trình đào tạo là văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nội dung, kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, giữa lý thuyết và thực hành, quy định phương thức, phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của cơ sở giáo dục và đào tạo”

Wentling.T (1993) cho rằng: “ Chương trình đào tạo là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo (có thể là một khóa học kéo dài vài giờ, một ngày, một tuần hoặc một năm). Bản thiết kế tổng thể đó cho biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ những gì trông đợi ở người học sau khóa học. Chương trình đào tạo phác họa ra quy trình cần thực hiện nội dung đào tạo, cho biết phương pháp đào tạo và cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, tất cả những cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ ”.

Về cấu trúc của một chương trình đào tạo, Tyler (1949) cho rằng:  “ Chương trình đào tạo phải bao gồm 4 thành tố cơ bản, đó là: 1) Mục tiêu đào tạo; 2) Nội dung đào tạo; 3) Phương pháp và quy trình đào tạo; 4) Cách thức đánh giá kết quả đào tạo. Dựa theo cấu trúc của chương trình đào tạo, chúng ta thấy rõ quan điểm đào tạo, thể hiện được mối quan hệ giữa chương trình đào tạo với các nhân tố khác của quá trình đào tạo. Vì vậy, việc xây dựng và phát triển chương trinh đào tạo của mỗi nhà trường trong một giai đoạn nhất định cần được tiến hành đồng bộ các nhân tố mục tiêu, nội dung, phương pháp, quy trình và cách thức đánh giá kết quả đào tạo”.

Như vậy, chương trình đào tạo được hiểu là bản kế hoạch được trình bày một cách có hệ thống toàn bộ hoạt động đào tạo với thời gian xác định trong đó mô tả mục tiêu (chuẩn đầu ra), nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học, cách thức đánh giá kết quả đào tạo (đối chiếu với chuẩn đầu ra).

2.2 Quy trình phát triển chương trình đào tạo

Quy trình 6 bước phát triển chương trình đào tạo của Ken và cộng sự (2010)

 

Quy trình 8 bước phát triển CTĐT của Lê Đức Ngọc; Trần Thu Hoài ( 2012)

 

Quy trình 11 bước để phát triển chương trình đào tạo của Nguyễn Đình Lâm (2012)

 

3. PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM

3.1 Mô hình phân tích

3.2 Phân tích và thảo luận ảnh hưởng của nhân tố phát triển khoa học công nghệ đến phát triển chương trình đào tạo của các trường đại học Việt Nam hiện nay

Nhiều thay đổi lớn trong công việc bắt nguồn từ những phát triển trong khoa học và công nghệ.

Ngược dòng lịch sử, vào thế kỷ 18 và 19 cuộc cách mạng công nghiệp tại Anh và các nước Tây phương đã chuyển phương thức sản xuất thủ công sang máy móc. Kết quả là nhiều người trước đây vốn làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp hay tiểu thủ công nghiệp chuyển sang làm việc trong các nhà máy và hầm mỏ.

Sau đó sự phát triển của khoa học kỹ thuật và các ngành công nghiệp trong thế kỷ 20 kéo theo sự xuất hiện một lực lượng lao động khá đông đảo tại các văn phòng, nhà máy, phòng nghiên cứu,..

Rồi đến những năm cuối thế kỷ 20, tại các nước có nền kinh tế phát triển, sự phát triển của Khoa học và Công nghệ ( đặc biệt là sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin) đã tạo ra xu hướng ngày càng có thêm nhiều người làm việc “tại gia” hay tại các công ty kinh doanh nhỏ. Nhưng có ai dám khẳng định được rằng trong vòng 20 năm hay 30 năm nữa bức tranh này vẫn còn giữ nguyên trạng như vậy?

Sự phát phát triển khoa học và công nghệ cũng đã làm cho công nghệ dạy và học luôn đi theo xu hướng phát triển, tiến bộ và cởi mở hơn, đặc biệt là sự tác động mạnh mẽ của nền công nghệ 4.0 và trí tuệ nhân tạo, đã làm cho công việc dạy và học phải tiếp cận với phương thức giao tiếp mới ( New information), gắn liền với phương tiện truyền thông (Media), và kỹ thuật số ( Digital).

Dạy và học tiếp cận theo phương thức giao tiếp mới được thể hiện mô hình dạy và học đã trải qua 3 giai đoạn như sau:

  • Mô hình giai đoạn 1: là giai đoạn từ năm 1950 trở đi, mô hình dạy và học là bắt buộc (Madatory), người dạy và học bó buộc trong lớp với bốn bức tường, thầy soạn bài, giảng trên bảng, học trò nghe, ghi chép vào tập, học thuộc, trả bài…đặc trưng của mô hình này là tương tác một chiều từ người thầy truyền đạt đến học trò, ít có sự phản biện phản hồi từ trò đến thầy. Giai đoạn này ít xuất hiện việc tự học của người học.
  • Mô hình giai đoạn 2: là giai đoạn từ năm 1990, mô hình dạy và học chuyển từ bắt buộc (Madatory) sang mô hình tự do ( Freedom), phương thức giao tiếp giữa người dạy và học cởi mở và tiên tiến hơn thông qua hệ thống kết nối máy tính với các thiết bị điện tử, và tạo ra phương thức dạy và học mới được gọi là Elearning. Phương thức này người dạy soạn giáo trình bài giảng, và giảng thông qua các phần mềm của Microsoft Office như Powerpoint; Word; Excel được kết nối với thiết bị điện tử như máy chiếu ( Projector ) chiếu trên màn hình, người học lúc này chủ yếu sẽ nhìn, nghe, và ghi chép ít hơn vì đã có giáo trình được in và photo từ các file của phần mềm Microsoft Office, sau đó học, làm bài tập, và kiểm tra…mô hình này tiến bộ hơn rất nhiêu so với mô hình giai đoạn 1 nhưng  đặc điểm của nó người dạy và học vẫn phải bó buộc trong lớp với bốn bức tường, và đặc trưng về phương pháp dạy và học vẫn tương tác một chiều từ người thầy truyền đạt đến học trò, ít có sự phản biện phản hồi từ trò đến thầy. Giai đoạn này bắt đầu xuất hiện việc tự học của người học, tuy nhiên người học không có những phương tiện và công cụ để thuận tiện cho việc tự học mọi lúc mọi nơi.
  • Mô hình giai đoạn 3: là giai đoạn hiên nay, mô hình dạy và học đã chuyển sang mô hình tự do nhưng theo phương thức cởi mở, và tiên tiến hơn rất nhiều, với sự ra đời của hệ thống internet, với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, tất cả các vật thể có thể kết nối lại với nhau không giới hạn không gian và thời gian, tất cả có thể được tích hợp vào những thiết bị thông minh mà điển hình là smartphone ( điện thoại thông minh), Ipad, máy tính thông minh… Tất cả các tài liệu ( hồ sơ, các phương tiện công cụ học tập…) được thiết kế, biên soạn trên các chương trình phần mềm của máy tính có thể dễ dàng upload lên facebook, youtube, website, drive, email… và chỉ cần một cú click chuột thì  tất cả các tài liệu đó được chuyển ngay đến người học, từ đó người học có đủ điều kiện để tự học. Một trong những công cụ tiện ích của người học hiện nay có thể tự học mọi lúc mọi nơi, không nhất thiết là phải ở trong lớp học với bốn bức tường là chiếc điện thoại thông minh smartphone, mà hầu hết ngày nay ai cũng có, đồ vật này trở thành một nhu cầu thiết yếu của con người ( đồ vật bất ly thân) trong thời đại kỹ thuật số với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Chính vì vậy việc thay đổi cách dạy, cách học các học phần bằng cách áp dụng phương tiện kỹ thuật và công nghệ là tất yếu để thích nghi với sự thay đổi, để từ đó các trường đại học Việt Nam tồn tại và phát triển.

Mô hình giai đoạn 3, chính là mô hình dạy và học tiếp cận theo phương thức giao tiếp mới “ Lấy người học làm trung tâm, phát huy tối đa tính tích cực và chủ động của họ trong cách học tại lớp và tự học, phương pháp giảng dạy tương tác 3 chiều: Học viên - Học viên - Giảng viên…” (như đã nêu ở phần trên), dựa trên nền tảng phương tiện của công nghệ thông tin và truyền thông mới (New Information and Communication Technology).

Do đó khi xây dựng và phát triển chương trình đào tạo của các trường đại học Việt nam cần chú trọng đến việc ứng dụng các phương tiện kỹ thuật và công nghệ do sự phát triển khoa học công nghệ của nhân loại mang lại trong phương pháp đào tạo và cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập. Đây là một xu hướng tất yếu mà các trường đại học Việt Nam phải thay đổi trong chương trình đào tạo của trưởng mình nếu muốn tốn tại và phát triển.

3.3 Phân tích và thảo luận ảnh hưởng của nhân tố đào tạo theo nhu cầu xã hội đến phát triển chương trình đào tạo của các trường đại học Việt Nam hiện nay

Trong ba cách thức tiếp cận các bước của quy trình phát triển chương trình đào tạo đại học đã nêu ở mục 2.2 của phần cơ sở lý luận, chúng ta đều nhận thấy bước công việc đầu tiên để phát triển chương trình đào tạo là cần phải khảo sát nhu cầu thực tiễn, phân tích tình hình, đánh giá thực trạng. Thực chất của bước công việc này là thu thập, phân tích, xác định nhu cầu đào tạo mà xã hội đang cần. Kết quả cuối cùng của dạy và học là sản phẩm giáo dục mà đối tượng là người học phải đáp ứng được nhu cầu thực tế của xã hội, của doanh nghiệp, của nhà tuyển dụng. Trường Đại học phải đào tạo ra những gì mà xã hội, doanh nghiệp, nhà tuyển dụng đang “cần”, chứ không phải đào tạo ra những gì mà mình đang “có”.

Trên một số diễn đàn gần đây, các học giả và các nhà quản trị giáo dục hay đề cập đến yêu cầu đổi mới đào tạo nhân lực để thích ứng với thị trường lao động rất “mới” và “khác” trong tương lai gần, trong đó hay đề cập đến các khái niệm như Thế giới VUCA (the VUCA World) và Cách mạng Công nghiệp 4.0 (IR 4.0)…

“Thế giới VUCA” là khái niệm đã có từ mấy chục năm nay, hình thành bằng 4 chữ cái đầu của các thuật ngữ Volatility (biến động), Uncertainy (bất định), Complexity (phức tạp), Ambiguity (mơ hồ), được quân đội Hoa Kỳ dùng từ thời chiến tranh lạnh, sau này các nhà kinh tế học thường dùng để chỉ thị trường tài chính thiếu tính ổn định… Gần đây, nhiều chuyên gia giáo dục đại học quốc tế đã sử dụng thuật ngữ VUCA để nói về sự biến đổi khó lường của thị trường nhân lực trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư (Industrial Revolution 4.0) đang tác động rất mạnh đến tương lai nghề nghiệp.

Bản báo cáo “Tương lai nghề nghiệp” (The Future of Jobs) của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) công bố năm 2016 ước tính rằng: “Đối với thế hệ học sinh bắt đầu vào tiểu học hôm nay, 65% khi đi làm sẽ làm những việc cho đến nay còn chưa hiện hữu”. Cũng theo dự báo của WEF, trong giai đoạn 2015-2020, trung bình cứ 6 triệu vị trí việc làm mất đi, chỉ có khoảng 2 triệu việc làm mới được tạo ra, khối hành chính công giảm mạnh trong khi việc mới chủ yếu thuộc khối công nghệ cao và các ngành quản trị. Thực ra, nguy cơ biến động của thị trường lao động dưới tác động của công nghệ hiện đại đã được cảnh báo từ nhiều thập kỷ trước. Chẳng hạn, tròn 20 năm trước (1999), Bộ Lao động Hoa Kỳ đã đưa ra con số ước tính 65% như báo cáo của WEF. Gần đây, năm 2017, Tập đoàn Dell Technologies thậm chí còn đưa ra con số ước tính cao hơn rất nhiều: trong 10 năm tới, khoảng 85% nhân lực sẽ làm những việc cho đến nay còn chưa hiện hữu.

Như vậy, nhiều thách thức, nguy cơ đã và đang đặt ra, đòi hỏi không chỉ sinh viên mà cả giảng viên và các trường đại học ở Việt Nam phải đổi mới hoạt động đào tạo. Những thách thức có thể được nhận diện như sau:

  • Một là đòi hỏi ngày càng cao của các nhà tuyển dụng về phẩm chất và kỹ năng bên cạnh trình độ chuyên môn của sinh viên tạo ra áp lực đổi mới đối với Nhà trường trong việc cân đối giảng dạy kiến thức với đào tạo kỹ năng và phát triển tư duy tích cực cho sinh viên. Sự biến động về nghề nghiệp trong tương lai khiến hoạt động đào tạo của các trường đại học đối diện nguy cơ lạc hậu so với nhu cầu nhân lực mới.
  • Hai là nguy cơ mất thị phần tuyển sinh và đào tạo ở các khối ngành đào tạo truyền thống, nhất là các ngành khoa học cơ bản vốn ngày càng ít hấp dẫn người học. Trong những năm gần đây, tổng số thanh niên Việt Nam học đại học trong nước giảm đều, trong khi số lượng du học nước ngoài tăng mạnh, chưa tính đến xu hướng “du học tại chỗ” thông qua các chương trình đào tạo từ xa (distance) hoặc trực tuyến (online) của các trường đại học nước ngoài và các chương trình liên kết quốc tế với đại học trong nước… Theo báo cáo thường niên Open Doors của Viện Giáo dục Quốc tế (IIE), số lượng học sinh Việt Nam du học tại Hoa Kỳ tăng liên tục trong 17 năm qua, đạt con số 24.325 sinh viên vào năm 2018, đồng nghĩa hơn 800 triệu đô la Mỹ đã chảy từ Việt Nam sang Hoa Kỳ trong năm vừa qua, chưa nói đến số lượng lớn du học sinh Việt Nam ở các nền giáo dục quốc tế khác.
  • Ba là sự chuyển dịch mạnh cơ cấu việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp sang khu vực ngoài công lập (tư nhân, quốc tế, phi chính phủ, khởi nghiệp...) đặt ra yêu cầu điều chỉnh cơ cấu chương trình đào tạo, thời lượng giảng dạy trên lớp, đầu tư phát triển hệ kỹ năng tổng hợp, rèn luyện thái độ chủ động và tư duy học tập tích cực để sinh viên có thể thích ứng được với những môi trường làm việc khác nhau trong tương lai. Hội nghị Thượng đỉnh Giáo dục Quốc tế (WISE) diễn ra tại New York tháng 9/2018 nhấn mạnh đến tầm quan trọng trong giáo dục nhận thức và tư duy “học tập suốt đời” bởi trong tương lai kiến thức học được ở trường đại học sẽ bị lạc hậu rất nhanh. Vì vậy, chỉ khi có quan điểm học tập thường xuyên, tư duy học tập suốt đời thì người lao động mới có thể thích ứng được với sự biến đổi của nghề nghiệp tương lai.

Đổi mới - sáng tạo là thuộc tính bắt buộc của bất kỳ một tổ chức hoặc xã hội nào. Không có đổi mới - sáng tạo sẽ không có phát triển. Giáo dục đại học không là ngoại lệ, cần bắt nhịp với xu thế phát triển như vũ bão hiện nay của công nghệ và thị trường lao động. Các trường đại học của Việt Nam cần phải khảo sát, thu thập thông tin nhu cầu của xã hội, của doanh nghiệp, của nhà tuyển dụng về nguồn nhân lực mà họ đang cần để từ đó phát triển chương trình đào tạo mới cho một ngành mới, hoặc cải tiến chương trình đào tạo của một ngành đang có bao gồm các thành tố cơ bản: mục tiêu (chuẩn đầu ra), nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học, cách thức đánh giá kết quả đào tạo (đối chiếu với chuẩn đầu ra) sát với thực tiễn, để từ đó có thể đào tạo ra một nguồn nhân lực đáp ứng được nhu cầu của xã hội, của doanh nghiệp và nhà tuyển dụng.

3.4 Phân tích và thảo luận ảnh hưởng của nhân tố toàn cầu hóa trong giáo dục đại học đến phát triển chương trình đào tạo của các trường đại học Việt Nam hiện nay

Trong thời đại toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực của đời sống, các quốc gia đang tỏ ra lúng túng, mơ hồ trong việc xử lý và định hình một chiến lược giáo dục tổng thể, để có thể đáp ứng những thay đổi nhanh chóng của thời đại. Giáo dục đại học ở Việt Nam cần có sự thay đổi để thích ứng với những biến đổi như vũ bão của khoa học công nghệ mới và sự toàn cầu hóa...

Có thể nói, khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ dẫn đến sự bùng nổ tri thức. Hệ quả là làm cho sản xuất và mọi lĩnh vực đời sống văn hóa, giáo dục sẽ phải đổi mới nhanh chóng về nhận thức cũng như lối sống của cộng đồng. Để tránh khỏi lạc hậu, thích ứng kịp thời với sự thay đổi từng ngày, từng giờ của sản xuất cũng như đời sống, cá nhân và cộng đồng, không thể không trang bị những kiến thức, kỹ năng mới, điều chỉnh ứng xử phù hợp với những cái mới đang liên tục xuất hiện.

Quá trình toàn cầu hóa yêu cầu nền giáo dục tri thức cao với những đòi hỏi: sự sáng tạo (sản xuất) ra tri thức diễn ra với tốc độ nhanh, quy mô lớn; việc sử dụng kiến thức khoa học, công nghệ vào sản xuất trở thành nhu cầu thường nhật của xã hội; việc xử lý chuyển giao kiến thức và thông tin diễn ra nhanh chóng, rộng khắp, nhờ vào sự phát triển vượt bậc của hệ thống công cụ hiện đại, trong đó công nghệ thông tin có vai trò quyết định. Điều này đòi hỏi giáo dục đại học cần đổi mới về tư duy, hướng cộng đồng về một xã hội học tập với nền kinh tế tri thức. Đồng thời, cần làm cho những quan niệm về văn hóa của nhân loại thay đổi, chủ động hội nhập và đối thoại giữa các nền văn hóa, để có thể sống bao dung với các giá trị văn hóa của cộng đồng khác. Những thành quả của khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật, y học, thể thao… nói chung là những thành tựu văn hóa của nhân loại, đòi hỏi con người phải học tập suốt đời mới thích nghi với nền văn hóa hiện đại của thế giới.

Quá trình dịch vụ hóa giáo dục đại học gắn với toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế về giáo dục đại học đã làm cho chức năng của giáo dục đại học có sự thay đổi, được nâng lên một nấc thang mới trong tương quan với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Đó là chức năng kinh tế, đầu tư, tạo lập giá trị mới và kết nối xã hội, cạnh tranh quốc tế… Giáo dục đại học không còn chỉ thuần túy là đào tạo nhân lực và phúc lợi xã hội.

Sự giao thoa, đối thoại, hợp tác, cạnh tranh giữa các nền giáo dục đại học làm cho nền giáo dục đại học của mỗi nước vừa có giá trị dân tộc, vừa có giá trị quốc tế - nhân loại. Sự thắng, thua của một nền giáo dục đại học không phải chỉ ở chiếm lĩnh thị phần giáo dục lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, mà còn ở chỗ biết tiếp thu, phát huy có hiệu quả những giá trị tích cực, tiên tiến hơn của các nền giáo dục đại học khác. Nắm chắc, phát huy những giá trị của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc các giá trị quốc tế để hội nhập có hiệu quả là hướng đi cần chú trọng.

Do những thay đổi về chức năng, cơ chế phát triển giáo dục đại học gắn liền với trình độ phát triển cao của nền kinh tế, xã hội và các lĩnh vực khác, giáo dục đại học trên thế giới đang diễn ra những xu hướng mới cần được nhận thức đầy đủ và sâu sắc. Đó là xu hướng đại chúng hóa; xu hướng đa dạng hóa các loại hình, phương thức giáo dục, đào tạo, phát triển đào tạo từ xa, qua mạng, thay đổi chức năng, mô hình của các cơ sở giáo dục đào tạo; xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa, hội nhập và hợp tác cùng với cạnh tranh quốc tế về giáo dục đại học, đào tạo tăng lên. Giáo dục, đào tạo ngày càng gắn bó trực tiếp, nhân quả, hiệu quả hơn với sự phát triển kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ. Cơ chế phát triển giáo dục, đào tạo ngày càng tương thích với cơ chế phát triển kinh tế, xã hội; cơ chế thị trường, tính chất dịch vụ và cung ứng dịch vụ giáo dục, đào tạo ngày càng tăng lên tạo sự đổi mới phương thức thực hiện phúc lợi xã hội trong giáo dục để nâng cao hiệu quả. Xu hướng đẩy mạnh xã hội hóa, kết hợp công - tư trong phát triển giáo dục, đào tạo được đẩy mạnh. Giáo dục cho người lớn trở thành một nhu cầu ngày càng tăng, hình thành nhu cầu học tập suốt đời, mà nhà trường với phương thức đào tạo truyền thống không đáp ứng được. Bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo trở thành vấn đề của toàn xã hội, một nội dung quản lý nhà nước, giá trị quốc gia, điều kiện để mở rộng hợp tác quốc tế.

Toàn cầu hóa  trong giáo dục đại học cũng là cơ hội để các trường đại học Việt Nam đối sánh với các trường đại học trong khu vực ASEAN, và thế giới các chương trình đào tạo đại học, qua đó khi xây dựng và phát triển chương trình đào tạo có sự kế thừa những điểm mạnh về kiến thức, kỹ năng, giá trị tinh hoa chung của nhân loại, đồng nhất với hệ thống kiểm định quản lý chất lượng của các trường đại học trong khu vực và thế giới phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, để người học sau khi tốt nghiệp có thể làm việc bất kỳ nước nào trong khu vực ASEAN, khi trụ cột AEC của các nước ASEAN đã có hiệu lực, đồng thời sinh viên có thể học nâng cao lên ở bất kỳ quốc gia nào trong khu vực ASEAN theo định hướng và triết lý “học tập suốt đời”

Toàn cầu hóa trong giáo dục đại học đã tác động đến sự đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông trong dạy và học.

Toàn cầu hóa giáo dục đại học là cơ hội, cũng vừa là thách thức, là xu thế tất yếu, diễn ra trên toàn cầu…, tác động trực tiếp đến các trường đại học Việt Nam trong việc  xây dựng và phát triển chương trình đào tạo đại học phù hợp với sự hội nhập khu vực và toàn cầu.

4. KẾT LUẬN

Phát triển chương trình đào tạo đại học một cách thực tiễn, hội nhập và khoa học là một nhiệm vụ rất quan trọng đối với các trường đại học Việt Nam hiên nay, góp phần to lớn vào việc tạo ra sản phẩm đào tạo có chất lượng cao, phù hợp với từng thời kỳ của xã hội, doanh nghiệp và nhà tuyển dụng, đồng thời cũng bảo đảm văn kiện của UNESCO về bốn trụ cột của giáo dục thế giới thế kỷ XXI. Đó là: Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để khẳng định bản thân . Ba tác nhân: Sự phát triển khoa học công nghệ; Đào tạo theo nhu cầu xã hội hóa; Toàn cầu hóa giáo dục đại học đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển chương trình đào tạo đại học tại các trường đại học của Việt Nam hiên nay. Thay đổi là quy luật tất yếu của tiến hóa nhân loại. Trong đó thay đổi trong giáo dục đại học là hiển nhiên. Các trường đại học Việt Nam hiện nay muốn tồn tại và phát triển thì điều cần phải làm nay là soát xét lại các chương trình đào tạo của mình xem xét có còn phù hợp nữa không? Từ đó đưa ra kế hoạch và lộ trình thay đổi chương trình đào tạo phù hợp với xu hướng mới.

Tài liệu tham khảo

1.  Business Edge (2005). Làm chủ sự thay đổi. Nhà xuất bản Trẻ, TP.HCM.

2.  First News- Trí Việt ( 2005). Quản lý sự thay dổi và chuyển tiếp. Nhà xuất bản tổng hợp TP.HCM.

3.  TS.Nguyễn Tiến Dũng (2019)-https://edtech21a.com/boi-duong-mobilearning-technology/

4.  TS. Nguyễn Tiến Dũng (2019). Các tài liệu và tư liệu bồi dưỡng và tập huấn ( 15 tài liệu, tư liệu)

5.  Cao Mạnh Tuấn (2017). Tiếp cận CDIO như thế nào để chương trình đào tạo hiệu quả?

http://ueb.edu.vn/newsdetail/ve-gduc/3361/tiep-can-cdio-the-nao-de-chuong-trinh-dao-tao-hieu-qua.htm.

6.  Dương Tấn Diệp (2010). Đổi mới phương pháp giảng dạy- Giải pháp cấp thiết nâng cao chất lượng đào tạo đại học. Phát triển và Hội nhập, số 7,10/2010.

7.  Phan Thị Hồng Vinh; Hà Thế Truyền (2017). Bài giảng phát triển chương trình và tổ chức quá trình đào tạo.

8.  Biggs J (1999). Teaching For Quality Learning of University. Buckingham, Open University Press.

9.  Boud D; Felleti G (1997). The challenge of Problem Based Learning. Tertiary Education and management.

10. Công ty Tư vấn Quản lý INLEN.  https://moodle.2splus.com/

11.Internet.https://business.tutsplus.com/vi/tutorials/how-to-save-powerpoint-slides-as-jpeg--cms-30781

12. Internet .  https://www.youtube.com/watch?v=Fbu-QqW9U9

13. Internet .  https://www.youtube.com/watch?v=AWvrsCS4JQ0

  • SBCGZ6 GỬI
  • GỬI
  • Ý kiến khách hàng
      “Sau khi tham dự khóa đào tạo này: Tôi mở rộng thêm kiến thức về quản ...”
    • Bà Phạm Thị Phụng Ngọc - Tổ trưởng sản xuất Công ty Cổ phần Nước giải khát Chương Dương
      “Tôi đã hiểu cơ bản về cấu trúc lương 3Ps, áp dụng cấu trúc lương theo ...”
    • Ông Nguyễn Thế Quốc Đại – Quản đốc Phân xưởng Công ty Cổ phần Trà Bắc
      “Qua khóa học tôi đã học được phong cách làm việc chuyên nghiệp ...”
    • Bà Lê Thị Thanh Thảo – Nhân viên giao dịch Công ty cổ phần điện lực Khánh Hòa
      “Qua khóa học tôi hiểu sâu hơn về quản trị sản xuất, giúp tôi hoàn ...”
    • Bà Nguyễn Thị Yến Oanh – Công ty Cổ phần Dệt may Quảng Phú
      “Tôi đã học được những công thức tính thời gian, mối quan hệ giữa năng suất ...”
    • Bà Vũ Thị Kim Anh – Trưởng phòng Hành chính - Nhân sự
      “Tôi đã học được khả năng lãnh đạo và vai trò trách nhiệm ...”
    • Ông Nguyễn Trọng Quý
      “Qua khóa học, tôi đã học cách nhận diện rủi ro trong mọi hoạt động của tố ...”
    • Bà Nhan Húc Quân – Tổng Giám đốc
      “Qua khóa học, tôi đã học được các phương pháp kiểm soát chi ...”
    • Ông Huỳnh Quốc Bảo – Kế toán trưởng
      “Thông qua khóa đào tạo tôi đã hiểu được nhiều kiến thức về thị trường, ...”
    • Bà Nguyễn Thị Thu Vang - Nhân viên Marketing
      “Qua khóa đào tạo tôi có thêm được những kiến thức cơ bản về Marketing, ...”
    • Ông Trần Xuân Sơn
      “Qua Khóa học Tôi đã học được các Kỹ năng: Kỹ năng bán hàng; Cách ...”
    • Bà Dương Thị Cẩm Tú - Tỉnh Trà Vinh
    NHẬP THÔNG TIN

    271KIH
    TOP