Đổi mới phương pháp Dạy - Học theo phương thức giao tiếp mới

TS. Phan Ngọc Thanh

Chuyên gia tư vấn quản lý - Công ty tư vấn INLEN

Giảng viên cơ hữu - Khoa Quản trị – Luật ĐHNTT

Đổi mới và thay đổi cơ bản phương pháp dạy-học, khắc phục phương thức tương tác một chiều, thụ động, đặc trưng của trường phải “chỉ thị, giáo huấn” để chuyển sang phương pháp dạy và học với phương thức giao tiếp mới, phương thức tương tác đa chiều, chủ động, đặc trưng của  trường phái “kiến tạo/ tạo dựng”, nhằm rèn luyện nếp tư duy phân tích, đánh giá, sáng tạo của người học, để từ đó người học ứng dụng thực hành giải quyết các vấn đề trong thực tiễn một cách hiệu quả. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến, kết hợp chặt chẽ với các phương tiện truyền thông hiện đại, và kỹ thuật số vào quá trình dạy và học, đảm bảo đáp ứng được điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của người học mọi lúc mọi nơi. Phương pháp dạy - học và công nghệ đào tạo là những nhân tố có ảnh hưởng mang tính quyết định đến chất lượng giáo dục ở bậc đại học theo định hướng ứng dụng thực hành, đáp ứng được nhu cầu của xã hội, thực hiện được triết lý giáo dục “học đi đôi với hành” trong giai đoạn hiện nay.

Trên tinh thần đó, bài viết này muốn đưa ra một cách nhìn về vai trò của các mô hình và phương pháp dạy - học và liên hệ với thực tiễn phương pháp dạy - học  trong các Trường đại học ở Việt Nam nói chung và Trường đại học Nguyễn Tất Thành nói riêng, từ đó đề xuất một số giải pháp đổi mới phương pháp dạy - học tại trường đại học Nguyễn Tất Thành theo phương thức giao tiếp mới trong giai đoạn hiên nay để đáp ứng được định hướng ứng dụng thực hành.

1. Tại sao phải thay đổi cách dạy, cách học

Vào khoảng 500 năm trước Công nguyên, Hearclitus - một triết lý gia người Hy Lạp đã phát biểu “Không có gì tồn tại vĩnh viễn, trừ sự thay đổi!”.

Trong thời đại của chúng ta, khi mà nhịp điệu của sự thay đổi đang ngày càng gia tăng thì chân lý của câu nói trên càng được minh chứng, đặc biệt là trong thế giới công việc.

Thời kỳ mà người ta làm những công việc như nhau với những cách làm như nhau trong suốt quãng đời làm việc nay đã thuộc về quá khứ. Môi trường làm việc cũng đã đổi thay một cách sâu sắc trong vòng 40 năm trở lại đây, và thật khó có thể hình dung rằng ”thời vàng son” ấy sẽ quay trở lại.

Thay đổi không đơn thuần là một chướng ngại vật nhất thời hay một vấn đề cần được giải quyết ngay để chúng ta sớm quay lại với trạng thái ban đầu, trái lại, thay đổi diễn ra mọi lúc. Không một doanh nghiệp, không một tổ chức nào đứng yên mà không cần thay đổi. Sự tự mãn đã không còn chỗ đứng trong thế giới công việc, bởi lẽ cách thức làm việc của ngày hôm qua chỉ còn thích hợp cho con người của ngày hôm qua mà thôi.

Suy cho cùng: Thay đổi là quy luật tất yếu của mọi đối tượng, mọi chủ thể, để thích ứng với sự tiến hóa, nhằm tồn tại, phát triển và trường tồn.

Trong thời đại toàn cầu hoá và môi trường giáo dục cạnh tranh gia tăng như hiện nay, các trường Đại học không thể nằm ngoài quy luật của sự thay đổi, nhất là phải thay đổi cách dạy, cách học, khi mà có nhiều tác nhân bên ngoài gây ra sự thay đổi cho ngành giáo dục như: Khoa học và Công nghệ; Xã hội; Pháp luật; Kinh tế…

Công nghệ dạy và học luôn đi theo xu hướng phát triển, tiến bộ và cởi mở hơn, đặc biệt là sự tác động mạnh mẽ của nền công nghệ 4.0 và trí tuệ nhân tạo, đã làm cho công việc day và học phải tiếp cận với phương thức giao tiếp mới ( New Communication ), gắn liền với phương tiện truyền thông (Media), và kỹ thuật số ( Digital).

Dạy - học tiếp cận theo phương thức giao tiếp mới, với phương thức đào tạo theo hệ tín chỉ và mô hình đào tạo theo định hướng ứng dụng được thể hiện:

Lấy người học làm trung tâm nhằm phát huy tối đa tính tích cực và chủ động của họ trong cách học tại lớp và tự học mọi lúc mọi nơi; Phương pháp dạy và học tương tác 3 chiều: Học viên - Học viên - Giảng viên; Và được sử dụng phối hợp các phương pháp: thuyết trình, phát ý tưởng, thảo luận nhóm, trò chơi hoạt động, nghiên cứu tình huống, đóng vai, hỏi – đáp trong buổi học. Phương pháp dạy - học tương tác được gắn kết chặt chẽ với phương tiện truyền thông, và kỹ thuật số.

Tại Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại, theo nhiều công trình nghiên cứu, do sự bất cập từ nhiều phía, trong đó phương pháp dạy - học chậm được đổi mới, chậm thay đổi để thích ứng với sự tiến hóa và phát triển theo xu hướng chung của thế giới, nên chất lượng đào tạo của đại học Việt Nam vẫn còn đang ở mức thấp, mức độ gắn kết  giữa đào tạo và thực tiễn chưa cao, nên chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Người viết bài này cho rằng phương pháp dạy - học là một trong những nguyên nhân chính yếu dẫn đến kết quả đào tạo chưa đạt được như mong đợi. Vì vậy thông qua bài tham luận này người viết muốn mạn đàm cùng với Quý lãnh đạo Nhà trường, Quý Thầy Cô và bạn đọc quan tâm đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy - học tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành trong giai đoạn hiện nay.

2. Các kết quả nghiên cứu cho thấy các mô hình của phương pháp dạy - học có tác động và ảnh hưởng đến kết quả của người học

Theo tài liệu bồi dưỡng thực hiện Mobile Learning Technology của TS. Nguyễn Tiến Dũng, người viết bài này nhận thấy đến nay mô hình dạy và học đã trải qua 3 giai đoạn như sau:

Mô hình giai đoạn 1: là giai đoạn từ năm 1950 trở đi, mô hình dạy và học là bắt buộc (Madatory), người dạy và học bó buộc trong lớp với bốn bức tường, thầy soạn bài, giảng trên bảng, học trò nghe, ghi chép vào tập, học thuộc, trả bài…đặc trưng của mô hình này là tương tác một chiều từ người thầy truyền đạt đến học trò, ít có sự phản biện phản hồi từ trò đến thầy. Giai đoạn này ít xuất hiện việc tự học, cũng như định hướng ứng dụng của người học.

Mô hình giai đoạn 2: là giai đoạn từ năm 1990, mô hình dạy và học chuyển từ bắt buộc (Madatory) sang mô hình tự do (Freedom), phương thức giao tiếp giữa người dạy và học cởi mở và tiên tiến hơn thông qua hệ thống kết nối máy tính với các thiết bị điện tử, và tạo ra phương thức dạy và học mới được gọi là Elearning. Phương thức này người dạy soạn giáo trình bài giảng, và giảng thông qua các phần mềm của Microsoft Office như Powerpoint; Word; Excel được kết nối với thiết bị điện tử như máy chiếu (Projector) chiếu trên màn hình, người học lúc này chủ yếu sẽ nhìn, nghe, và ghi chép ít hơn vì đã có giáo trình được in và photo từ các file của phần mềm Microsoft Office, sau đó học, làm bài tập, và kiểm tra…mô hình này tiến bộ hơn rất nhiêu so với mô hình giai đoạn 1 nhưng đặc điểm của nó người dạy và học vẫn phải bó buộc trong lớp với bốn bức tường, và đặc trưng về phương pháp dạy và học vẫn tương tác một chiều từ người thầy truyền đạt đến học trò, ít có sự phản biện, phản hồi từ trò đến thầy. Giai đoạn này bắt đầu xuất hiện việc tự học của người học, tuy nhiên người học không có những phương tiện và công cụ để thuận tiện cho việc tự học mọi lúc mọi nơi, cũng như định hướng ứng dụng thực hành.

Mô hình giai đoạn 3: là giai đoạn hiện nay, mô hình dạy và học đã chuyển sang mô hình tự do nhưng theo phương thức cởi mở, và tiên tiến hơn rất nhiều, với sự ra đời của hệ thống internet, với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, tất cả các vật thể có thể kết nối lại với nhau không giới hạn không gian và thời gian, tất cả có thể được tích hợp vào những thiết bị thông minh mà điển hình là smartphone (điện thoại thông minh), Ipad, máy tính thông minh…Tất cả các tài liệu (hồ sơ, các phương tiện công cụ học tập…) được thiết kế, biên soạn trên các chương trình phần mềm của máy tính có thể dễ dàng upload lên facebook, youtube, website, drive, email… và chỉ cần một cú click chuột thì tất cả các tài liệu đó được chuyển ngay đến người học, từ đó người học có đủ điều kiện để tự học. Một trong những công cụ tiện ích của người học hiện nay có thể tự học mọi lúc mọi nơi, không nhất thiết là phải ở trong lớp học với bốn bức tường là chiếc điện thoại thông minh smartphone, mà hầu hết ngày nay ai cũng có, đồ vật này trở thành một nhu cầu thiết yếu của con người (đồ vật bất ly thân) trong thời đại kỹ thuật số với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Chính vì vậy việc thay đổi cách dạy, cách học môn học theo MLT ( Mobile Learning Technology) là tất yếu để thích nghi với sự thay đổi, để từ đó tồn tại và phát triển.

Mô hình giai đoạn 3, chính là mô hình dạy và học tiếp cận theo phương thức giao tiếp mới “ Lấy người học làm trung tâm, phát huy tối đa tính tích cực và chủ động của họ trong cách học tại lớp và tự học, phương pháp giảng dạy tương tác 3 chiều: Học viên - Học viên - Giảng viên, và tương tác giữa Học viên với Doanh nghiệp, tổ chức để định hướng ứng dụng thực hành…” (như đã nêu ở phần trên), dựa trên nền tảng phương tiện của công nghệ thông tin và truyền thông mới (New Information and Communication Technology), mà MLT trở thành một phương pháp và công cụ tối ưu và tiện ích nhất đến thời điểm hiện nay.

Đánh giá về hiệu quả của phương pháp dạy và học tương tác so với thuyết giảng, nghiên cứu của Soua và cộng sự tại Đại học Marie – Mỹ dẫn từ Boud và Felleti,1997) đã thu được kết quả khá đồng nhất và gây ấn tượng. Đó là mức độ lưu giữ kiến thức của người học và lôi cuốn họ vào việc học sẽ rất thấp nếu người học chỉ được nghe hoặc đọc; sẽ được tăng lên nếu họ được quan sát hoặc chứng kiến thực tế ;và rất cao nếu họ được tham gia giải quyết vấn đề hoặc trải nghiệm thực tế (Hình 1)

 

Hình 1: Hiệu quả học tập của Soura và cộng sự (Nguồn: Boud và Felleti,1997)

Đặc biệt hơn,  nghiên cứu của Nacy Tober 1994 (dẫn từ Boud và Felleti 1997) cho thấy, với sự tham gia tích cực của người học vào quá trình dạy và học dưới nhiều hình thức khác nhau thì kiến thức, kỹ năng và thái độ mà người học nhận được từ phương pháp dạy và học tương tác đều vượt trội so với trường hợp không tương tác (Hình 2).

                        Hình 2. Hiệu quả đào tạo của phương pháp tương tác so với không tương tác

                                                   (Nguồn: Boud và Felleti 1997)

Kết quả so sánh hai phương pháp dạy - học của Keacchie (2007) cũng khẳng định hiệu quả của phương pháp dạy - học tương tác có tác động tích cực lên người học hơn hẳn phương pháp thuyết giảng trên mọi tiêu chí đánh giá (bảng 1).

Bảng 1: So sánh giữa hai phương pháp giảng dạy

Phương pháp dạy - học

Phương cách học tập

Tâm lý vận dụng

Mức độ tập trung

Phương pháp đánh giá

Kết quả giáo dục

Thuyết giảng

Lắng nghe, ghi chép, học thuộc, lặp lại

Hồi phục, trí nhớ, ký ức

75% trong 20 phút đầu

Thi, kiểm tra (tái hiện trí nhớ)

Tư duy khuôn mẫu

Dạy- Học tương tác

Tìm tòi, quan sát, nghiên cứu tình huống, thảo luận, thuyết trình

Kích thích óc tò mò, sáng tạo, phản biện, phân tích, tổng hợp

75% trong suốt 60 phút

Bài thu hoạch và đóng góp trong suốt khóa học

( assignment)

Tư duy, sáng tạo, năng động

                                                    (Nguồn: Keacchie,2007)

3. Giải pháp để thực hiện dạy và học theo phương thức giao tiếp mới

Để thực hiện dạy và học theo phương thức giao tiếp mới như đã trình bày ở mục 1 và đạt được những kết quả chất lượng cho người học theo định hướng ứng dụng thực hành như những kết quả nghiên cứu ở mục 2, thiết nghĩ chúng ta cần thực hiện các giải pháp cơ bản sau đây:

Giải pháp 1:Thay đổi kỹ thuật dạy và học

Đối với Giảng viên phải chuyển từ “công việc dạy con người sang tổ chức sự học của con người” (Phạm Toàn -1932)

Giảng viên cần phải tổ chức quá trình giảng dạy và học tập từ trạng thái thụ động – Passive learning sang trạng thái chủ động – Active learning (bảng 3)

Bảng 3: Dạy và học từ trạng thái thụ động chuyển sang trạng thái chủ động

Dạy và học thụ động - Passive learning (Trường phái chỉ thị, giáo huấn )

 

Dạy và học chủ động - Active learning (Trường phái “ Kiến tạo/Tạo dựng

 

  1. Tư liệu, phương tiện dạy – học: không đầy đủ, không đa dạng, đơn điệu, chỉ có các loại tài liệu được in ra như: giáo trình, sách, photo, hay mượn (Các tài liệu đó cung cấp bởi giảng viên, hoặc thư viện)

  1. Tư liệu, phương tiện dạy và học: đầy đủ, đa dạng, đáp ứng được nhu cầu người học 24/24 mọi lúc thông qua các tài liệu in ấn, tài liệu số như: file mềm trên máy tính, audio (âm thanh) video  (phim), file trên các thiết bị cá nhân có thể nhận được như Ipad, smartphone…)

 

  1. Quan điểm dạy – học: Giảng viên là trung tâm

  1. Quan điểm dạy - học: Học viên làm trung tâm

 

 

  1. Phương pháp giảng dạy: đơn điệu, không đa dạng, một chiều, giảng viên giảng, học viên ghi, không có sự tương tác theo chiều ngược lại.

  1. Phương pháp giảng dạy: đa dạng, tương tác đa chiều: Học viên – Học viên; Giảng viên – Học viên; Học viên với thế giới thực bên ngoài. Giảng viên hướng dẫn học viên cách học môn học, học viên phải tăng cường phần tự học, học viên phải tự học phần năng lực nhận thức  cơ bản (nhớ, hiểu), giảng viên hướng dẫn cho học viên năng lực nhận thức bậc cao ( áp dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá, sáng tạo) và các kỹ năng mềm cần thiết như: làm việc nhóm, thuyết trình, giao tiếp, truyền thông, ứng dụng CNTT trong việc giải quyết các vấn đề của môn học.

 

  1. Sự tham gia của người học bắt buộc phải đến lớp điểm danh, phải đạt ít nhất là 80% số buổi học

  1. Sự tham dự của người học tính bắt buộc điểm danh trên lớp không cao (nhất là phần lý thuyết),
  1. Không gian tổ chức dạy - hoc, kiểm tra cố định trên lớp

  1. Không gian tổ chức dạy - học không nhất thiết cố định trên lớp mà uyển chuyển linh hoạt ở mọi nơi, mọi lúc
  1. Phương pháp kiểm tra, đánh giá năng lực học tập: đơn điệu, không đa dạng mang tính chất 1 chiều từ Giảng viên - Giảng viên đánh giá học viên thông qua các hình thức: điểm danh, tăng số lần làm bài tấp, làm bài tự luận, tiểu luận…

  1. Phương pháp kiểm tra, đánh giá năng lực học tập: đa dạng về các loại bài kiểm tra đánh giá (KTĐG) đa chiều: người học tự đánh giá; người học đánh giá với nhau thông qua học tập nhóm; Giảng viên đánh giá...

 

Kết cấu lại phương thức và thời gian, nội dung dạy - học cho một buổi học trên lớp (bảng 4)

Bảng 4: Kết cấu phương thức, thời gian, nội dung dạy - học trên lớp

 

Nhiệm vụ của

Giảng viên

 

Kết cấu nội dung,

thời gian

Nhiệm vụ của

học viên

Dạy và Hỏi

 

20%

 Nghe, học, trả lời và ghi chú

Hướng dẫn

60%

Làm, thảo luận và hỏi (học nhóm), trình bày

Nghe, hỏi, đúc kết

20%

Trả lời, rút ra bài học

 

 

Giải pháp 2: Đổi mới việc thiết kế, biên soạn tư liệu học tập

Biên soạn lại đề cương chi tiết môn học theo hướng dạy và học chủ động, bổ sung thêm phần rubrics (phần đánh giá năng lực người học) theo thang Bloom với các cấp độ (nhớ, hiểu, áp dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo);

Thiết kế lại giáo trình trên các file mềm (powerpoint, word, excel) gắn liền với việc sử dụng tối đa và tối ưu các phương tiện kỹ thuật số, đặc biệt là tổ hợp các phương tiện nghe - nhìn, và các thiết bị computer, smartphone, internet;

Chọn và biên soạn đầy đủ các công cụ và phương tiện học tập như audio, video… upload lên internet thông qua các công cụ Youtube, Drive, Facebook, Zalo… để học viên có thể dùng để tự học, mọi lúc, moi nơi thông qua computer và smartphone cá nhân.

Giải pháp 3: Đổi mới việc biên soạn/ thiết kế câu hỏi, đề kiểm tra đánh giá (KTĐG)

Biên soạn và thiết kế câu hỏi KTĐG phải đánh giá được năng lực thực tế của người học; Đáp ứng được chuẩn đầu ra theo thang của Bloom theo cấp độ từ thấp đến cao (nhớ, hiểu, áp dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo), theo định hướng ứng dụng thực hành, thông qua đó đáp ứng được nhu cầu của xã hội về việc làm.

Các câu hỏi kiểm tra đánh giá người học phải đảm bảo được tính hội tụ của phương pháp đánh giá đa chiều: tự đánh giá của người học, người học tự đánh giá với nhau, giảng viên đánh giá.

Gắn liền với việc sử dụng tối đa và tối ưu các phương tiện kỹ thuật số, đặc biệt là tổ hợp phần mềm Moodle kết nối với thiết bị computer, smartphone, thông qua hạ tầng internet, để giảng viên có thể tạo ra ngân hàng bài kiểm tra đánh giá, để học viên thực hiện bài kiểm tra và tự đánh giá trên các thiết bị cá nhân mọi lúc mọi nơi, đồng thời cũng đảm bảo tính an toàn, bảo mật bài kiểm tra, cũng như đáp ứng được công việc quản lý, kiểm soát, và điều chỉnh các bài kiểm tra của giảng viên theo từng thời kỳ, nhằm đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng của xã hội.

Giải pháp 4: Những việc cần làm cụ thể trong lĩnh vực Công nghệ thông tin và truyền thông mới  (New Information and Communication Technology - NICT ) mà giảng viên cần tiến hành làm:

Nâng cao năng lực sư phạm phấn đấu để đạt các yêu cầu của một người lao động sư phạm kết hợp với dạy học số đó là:  (Một nhà biên tập + Một nhà ngôn ngữ học + Giám đốc + Nhạc trưởng + Diễn viên) + Kỹ thuật số.

Tham gia các khóa tập huấn “ Bồi dưỡng thực hiện EL; MLT ”.

Nghiên cứu và tìm hiểu kỹ lưỡng thang đánh giá năng lực người học theo Bloom.

Nghiên cứu và sử dụng thành thạo chương trình phần mềm Moodle, để làm chủ thật sự chương trình phần mềm này nhằm:

  • Thiết kế, quản lý, hoàn thiện các loại bài tập KTĐG;
  • Tự đánh giá lại cách dạy, cách tổ chức KTĐG đã và đang thực hiện;
  • Tự định hướng và tự xác định các bước cần thực hiện trong quy trình thiết kế các bài KTĐG và câu hỏi KTĐG năng lực thực tế người học cho môn học.
  • Cách thức biên soạn, lưu trữ, quản lý và sử dụng các câu hỏi KTĐG các năng lực nhận thức của người học theo cấp độ cao.

Nghiên cứu và sử dụng thành thạo các công cụ Office lens; Open camera, và đặc biệt là phần mềm Camtasia, để làm video  dạy học cập nhật lên các công cụ Youtube, Zalo, Website, Facebook để học viên có thể truy cập trên các bị computer, smartphone… đáp ứng được nhu cầu tự học mọi lúc mọi nơi.

Cần chuẩn bị kịch bản sư phạm khoa học, hợp lý nhất, trước khi thực hiện các bước chụp hình, quay phim, chuẩn bị các tài liệu, để tạo nên tư liệu nguồn chuẩn bị cho việc sử dụng phần mềm Camtasia để làm một video dạy - học có chất lượng từ nội dung sư phạm, âm thanh, ánh sáng, mỹ thuật, hiệu ứng, hình ảnh, phần mở đầu và kết thúc, thời gian, dung lượng, tính phổ quát của một video…

Giải pháp 4: Hạ tầng kỹ thuật

Hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin – truyền thông ( CNTT - TT) dùng chung phải được đảm bảo dựa trên nền tảng phương tiện của công nghệ thông tin và truyền thông mới (New Information and Communication Technology- NICT) của TS. Nguyễn Tiến Dũng, chúng ta cần đầu tư hạ tầng kỹ thuật cụ thể:

  • Đường truyền internet cần phải có băng thông rộng;
  • Các web học tập đến từng môn học;
  • LMS ( Learning Management System), PC, và các trang thiết bị số thông minh;
  • Cổng thông tin điện tử;
  • Các phần mềm ứng dụng;
  • Khu, phòng, lớp học, phù hợp với công nghệ dạy học số;
  • Hạ tầng  kỹ thuật của các môn học cần phải đảm bảo: Phòng quay phim, màn hình, projector hoặc smart TV… để quay bài giảng môn học; Máy quay phim (nếu có càng tốt), hoặc trang bị smartphone;
  • Cần có một hosting riêng, để cài đặt trên server máy chủ phần mềm MOODLE và có thể dùng chung, đảm bảo sự đồng nhất, và an ninh tài liệu, giáo trình, đề thi, bài tự đánh giá của người học, điểm, ngân hàng câu hỏi, dữ liệu phân tích…

Giải pháp 5: Hệ thống thông tin

 Cần có hệ thống tài liệu, tư liệu được biên soạn đồng nhất để hướng dẫn việc sử dụng LMS, hệ thống NICT cho Giảng viên; Người học, nhất là trong việc sử dụng phần mềm MOODLE để tạo ngân hàng đề thi, người học tự đánh giá năng lực học, quản lý kết  quả học tập…

Cần tạo ra mạng lưới thông tin liên kết  giữa nhà quản lý  - giảng viên - người học… để học viên có thể tự học mọi lúc, mọi nơi… không gian mở, lớp học thông minh, văn phòng thông mình giữa Giảng viên - Học viên – Quản lý, có thể ngồi bất cứ nơi nào cũng có thể dạy và học, quản lý kết quả dạy và học đạt tiêu chuẩn mong đợi của các tổ chức trong và ngoài nước khi đánh giá, nhưng tiết kiệm được cơ sở hạ tầng, cũng như thời gian phải di chuyển đi lại…

Giải pháp 6: Tổ chức

Cần phải có một cơ cấu tổ chức, nhân sự và một hệ thống chính sách phù hợp, hợp lý để thúc đẩy phương thức dạy và học theo kỹ thuật số. Nhất quán đồng bộ từ định hướng, mục tiêu, chính sách, đến triển khai thực hiện. Tránh trường hợp “đánh trống, bỏ dùi”, thiếu sự cam kết của các cấp quản trị trong việc triển khai thực hiện đổi mới phương pháp dạy và học.

Giải pháp 7: Nhân sự

Khi triển khai phương thức dạy và học mới như đã nêu trên, đội ngũ Giảng viên là lực lượng nòng cốt quyết định sự thành bại của ĐỀ ÁN. Đội ngũ Giảng viên phải tốn rất nhiều thời gian để nghiên cứu làm các tư liệu, và các phương tiện cho người học, để người học có thể học mọi lúc mọi nơi… Để chương trình này đạt được hiệu quả, nhất thiết cần phải có sự quan tâm động viên của các cấp quản trị của NTTU đối với đội ngũ Giảng viên về tinh thần, lẫn vật chất để họ yên tâm có động lực làm việc lâu dài, góp phần vào việc thực hiện thành công đề án đổi mới phương pháp dạy và học theo phương thức giao tiếp mới, để làm gia tăng hơn nữa chất lượng đào tạo cho NTTU theo triết lý “ THỰC HỌC - THỰC HÀNH - THỰC DANH – THỰC NGHIỆP”, từ đó đưa NTTU vươn lên tầm cao mới trở thành một trong những trường Đại học nằm trong nhóm đầu của cả nước và khu vực…

  • T1PCB3 GỬI
  • GỬI
  • Ý kiến khách hàng
      “Sau khi tham dự khóa đào tạo này: Tôi mở rộng thêm kiến thức về quản ...”
    • Bà Phạm Thị Phụng Ngọc - Tổ trưởng sản xuất Công ty Cổ phần Nước giải khát Chương Dương
      “Tôi đã hiểu cơ bản về cấu trúc lương 3Ps, áp dụng cấu trúc lương theo ...”
    • Ông Nguyễn Thế Quốc Đại – Quản đốc Phân xưởng Công ty Cổ phần Trà Bắc
      “Qua khóa học tôi đã học được phong cách làm việc chuyên nghiệp ...”
    • Bà Lê Thị Thanh Thảo – Nhân viên giao dịch Công ty cổ phần điện lực Khánh Hòa
      “Qua khóa học tôi hiểu sâu hơn về quản trị sản xuất, giúp tôi hoàn ...”
    • Bà Nguyễn Thị Yến Oanh – Công ty Cổ phần Dệt may Quảng Phú
      “Tôi đã học được những công thức tính thời gian, mối quan hệ giữa năng suất ...”
    • Bà Vũ Thị Kim Anh – Trưởng phòng Hành chính - Nhân sự
      “Tôi đã học được khả năng lãnh đạo và vai trò trách nhiệm ...”
    • Ông Nguyễn Trọng Quý
      “Qua khóa học, tôi đã học cách nhận diện rủi ro trong mọi hoạt động của tố ...”
    • Bà Nhan Húc Quân – Tổng Giám đốc
      “Qua khóa học, tôi đã học được các phương pháp kiểm soát chi ...”
    • Ông Huỳnh Quốc Bảo – Kế toán trưởng
      “Thông qua khóa đào tạo tôi đã hiểu được nhiều kiến thức về thị trường, ...”
    • Bà Nguyễn Thị Thu Vang - Nhân viên Marketing
      “Qua khóa đào tạo tôi có thêm được những kiến thức cơ bản về Marketing, ...”
    • Ông Trần Xuân Sơn
      “Qua Khóa học Tôi đã học được các Kỹ năng: Kỹ năng bán hàng; Cách ...”
    • Bà Dương Thị Cẩm Tú - Tỉnh Trà Vinh
    NHẬP THÔNG TIN

    W79WDR
    TOP